Bình giảng tác phẩm – Bài số 1 (Đoạn trích Trao duyên)

Đoạn trích “Trao duyên” trích từ câu 723 đến câu 756 của “Truyện Kiều”. Trước đó, Kiều và Kim Trọng gặp nhau trong ngày hội mùa xuân, sau đó, tình yêu giữa hai người nảy nở. Họ đã sẽ chung sống với nhau đến trọn đời, nhưng một tai họa đã đổ ập xuống gia đình Kiều, để có ba tram lạng bạc hối lộ bọn sai nha lộng hành, cứu cha và em trai khỏi bị chúng hành hạ, Kiều buộc phải bán mình tức là hi sinh mối tình của mình với Kim Trọng. Sau khi việc bán mình đã được thực hiện, cha và em trai đã được tha, Kiều ngồi trắng đem để về thân phận va tình yêu, rồi nàng nhờ em gái mình là Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng.

Thúy Kiều là một người con gái có đức hi sinh, vị tha, Kiều đã chấp nhận hi sinh để cứu cha và em:

“Sự đâu sóng gió bất kì

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

Giữa lúc gia đình và người thân bị đe dọa, không thể băn khoăn do dự. Nàng phải lựa chọn ngay giải pháp bán mình chuộc cha, hi sinh tình yêu. Khi đã cứu được gia đình qua cơn sóng gió, Kiều lại thấy mình như người có lỗi với Kim Trọng. Nàng lo thuyết phục Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng, thay mình trả nghĩa tình yêu. Cách thuyết phục, nghệ thuật thuyết phục của Kiều có nhiều nhưng câu nói ấn tượng nhất là:

“Chị dù thịt nát xương mòn

Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây”

Nếu Thúy Vân nhân lời thì Kiều hình dung dẫu chết vẫn được an ủi, thanh thản. Lúc này, tất cả ý nghĩ của kiều đều tập trung vào việc lo trả nghĩa cho Kim Trọng, bở Thúy Kiều là người có tình yêu sâu sắc và mãnh liệt. Kiều không phải là người chỉ biết hi sinh, chỉ biết chấp nhận đau khổ, bất hạnh bởi nếu thế thì nhân vật sẽ không thể hoàn thiện, không chân thực. Kiều còn là một người có tình yêu sâu sắc, nàng c ũng biết sống cho riêng mình. Nàng nhận thấy sự trống  trải, vô nghĩa của cuộc đời khi không giữ được tình yêu với chàng Kim nữa. Nàng bất giác liên tưởng  đến cái chết nhiều lần. Nhờ Thúy Vân trả nghĩa tưởng như nàng có thể thanh thản nhưng không, trong lòng nàng vẫ dồn nén bao dằn vặt đau đớn. nàng than thân trách phận. Tình yêu mãnh liệt này chứng tỏ Kiều cũng sống bằng tình cảm, cảm xúc. Càng thiết tha với tình yeey, Kiều càng cảm thấy tính chất bi kịch của tình yêu và thân phận.

Để diễn tả đức hi sinh và lòng vị tha của kiều, Nguyễn Du đã sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau, Ngôn ngữ của Kiều có mục đích thuyết phục rất rõ: nói với em gái nhưng nàng dùng chữ như “cậy, lạy rồi sẽ thưa,xót tình máu mủ,..” Nàng thực sự mong em gái thay mình trả nghĩa Kim Trọng. Nàng nói đến lời thề nguyền một cách thật trân trọng: “lời nước non”. Kiều nhiều lần nhắc đến các vật kỉ niệm tình yêu rất đẹp và thiêng liêng. Việc nhớ đến từng chi triết của kỉ niệm cho thấy nàng trân trọng tình yêu, tha thiết đối với tình yêu như thế nào. Kiều cũng nghĩ nhiều đến cái chết, chứng tỏ nàng cảm nhận thấy rõ ràng cuộc sống vô nghĩa nếu không được sống cùng chàng Kim. Đặc biệt nàng còn tưởng tượng đến cảnh hồn về mà âm – dương cách trở, hai bên không thể nói chuyện được với nhau “cách mặt khuất lời”.

Kết hợp hài hòa cả tình cảm và lý trí, nhân vật Thúy Kiều là một nhân vật kiểu mới của văn học Việt Nam giai đoạn XVIII – XIX, một giai đoạn có những khám phá mới mẻ đối với thế giới nội tâm phong phú, phức  tạp của .

Bình giảng tác phẩm truyện Kiều – Bài số 2 (Đoạn trích Cảnh ngày xuân)

Đoạn thơ Cảnh ngày xuân gồm có 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của Truyện Kiều tiêu hiểu cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh và tả tình của thi hào Nguyễn Du. Một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui xôn xao, náo nức cứ dâng lên, cứ lan tỏa, rồi lắng dịu mãi trong lòng ta khi đọc đoạn thơ này.

 Trang thơ của Nguyễn Du đang mở rộng trước mắt chúng ta. Có phải không, sau bức chân dung giai nhân là bức họa về cảnh sắc mùa xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc, của chị em Thúy Kiều? Đoạn thơ Cảnh ngày xuân gồm có 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của Truyện Kiều tiêu hiểu cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh và tả tình của thi hào Nguyễn Du. Một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui xôn xao, náo nức cứ dâng lên, cứ lan tỏa, rồi lắng dịu mãi trong lòng ta khi đọc đoạn thơ này.

Bốn câu thơ đầu, mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình, nên thơ. Giữa bầu trời bao la mênh mông là những cánh én bay qua hay lại như "đưa thoi". Cánh én mùa xuân thân mật biết bao. Hai chữ ''đưa thoi" rất gợi hình, gợi cảm. Cánh én như con thoi vút qua, vút lại, chao liệng; đang trôi nhanh, mùa xuân đang trôi nhanh. Câu thành ngữ – tục ngữ: " thấm thoắt thoi đưa, như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu" đã nhập vào hồn thơ Tố Như tự bao giờ?

Sau cánh én "đưa thoi" là ánh xuân, là "thiều quang” của mùa xuân khi "chín chục đã ngoài sáu mươi". Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các thi sĩ xưa nay thật là hay và ý vị. Nào là "xuân hương lão" (Ức Trai), nào cảnh mưa bụi, tiếng chim kêu trong Đường thi. Nào là cánh bướm rối rít bay trong thơ Trần Nhân Tông. Còn là "xuân hồng" (Xuân Diệu), "mùa xuân chín" (Hàn Mặc Tử), v.v… Với Nguyễn Du là mùa xuân đã bước sang tháng ba, "Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi". Hai chữ "thiều quang" gợi lên cái màu hồng của ánh xuân, cái ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao la của đất trời "Xuân xanh, xuân thủy tiếp xuân thiên" (Nguyên tiêu – Hồ Chí Minh).

Còn là sắc "xanh" mơn mởn, ngọi ngào của cỏ non trải dài, trải rộng như tấm thảm "tận chân trời". Là sắc "trắng" tinh khôi, thanh khiết của hoa lê nở lác đác, chỉ mới hé lộ, khoe sắc khoe hướng "một vài bông hoa":

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Vẫn cổ thi Trung Hoa được Tố Như vận dụng một cách sáng tạo: "Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa”. Hai chữ "trắng điểm" là nhãn tự, cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏ hoa; bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: trên cái nền xanh của cỏ non là một vài bông lê "trắng điểm". Giữa diện và điểm, giữa nền xanh và sắc trắng của cảnh vật mùa xuân là những cánh én ''đưa thoi", là màu hồng của ánh thiều quang, là "khát vọng mùa xuân" ngây ngất, say đắm lòng người:

Nhìn hoa đang hé tưng bừng,

Khao khát mùa xuân yên vui lại đến.

(Ca khúc khát vọng mùa xuân – Mô-da)

Cảnh mùa xuân là bức tranh xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút của Nguyễn Du để lại cho đời, điểm tô cho cuộc sống mỗi chúng ta. Phải chăng, thi sĩ Chế Lan Viên đã học tập Tố Như để viết nên vần thơ xuân đẹp này:

Tháng giêng hai xanh mướt cỏ đồi,

Tháng giêng hai vút trời bay cánh én…

 ( Ý nghĩa mùa xuân)

Tám câu thơ tiếp theo tả cảnh trẩy hội mùa xuân: "Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh" trong tiết tháng ba. Điệp ngữ: "lẽ là… hội là…" gợi lên những cảnh lễ hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra đã bao đời nay: "Tháng giêng là tháng ăn chơi – Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè"… (Ca dao). Cảnh trẩy hội đông vui, tưng bừng, náo nhiệt. Trên các nẻo đường "gần xa" những dòng người cuồn cuộn trẩy hội. Có biết bao "yến anh" trẩy hội trong niềm vui "nô nức", hồ hởi, giục giã. Có biết bao tài tử, giai nhân "dập dìu" vai sánh vai, chân nối chân nhịp bước. Dòng người trẩy hội tấp nập ngựa xe cuồn cuộn "như nước", áo quần đẹp đẽ, tươi thắm sắc màu, nghìn nghịt, đông vui trên các nẻo đường "như nêm". Các từ ngữ: "nô nức”, "dập dìu", các ẩn dụ so sánh (như nước, như nêm) đã gợi tả lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt đang diễn ra khắp mọi miền quê đất nước. Trẻ trung và xinh đẹp, sang trọng và phong lưu:

Xem thêm:  Trình bày cảm nhận về câu nói: Đọc một cuốn sách hay cũng như được trò chuyện với người bạn thông minh

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Trong đám tài tử, giai nhân "gần xa” ấy, có 3 chị em Kiều. Câu thơ "Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân" mới đọc qua tưởng như chỉ là một thông báo. Nhưng sâu xa hơn, nó ẩn chứa bao nỗi niềm: chờ trông mong đợi, ngày lễ tảo mộ, ngày hội đạp thanh đến để du xuân trong những bộ quần áo đẹp đã chuẩn bị, đã "sắm sửa"… Có biết bao "bóng hồng" xuất hiện trong đám tài tử, giai nhân ấy? Ai đã từng đi hội chùa Hương, hội Lim, hội Yên Tử  mới cảm thấy cái đẹp, cái vui, cái tưng bừng, tươi trẻ trong hội đạp thanh mà Nguyễn Du đã nói đến.

Thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Các từ ghép: "yến/anh", "chị/em", "tài / tử", "giai / nhân", "ngựa / xe", "áo /quần" (danh từ); "gần xa", "nô / nức", “sắm /sửa", "dập / dìu" (tính từ, động từ) được thi hào sử dụng chọn lọc tinh tế, làm sống lại cái không khí lễ hội mùa xuân, một nét đẹp của nền văn hóa lâu đời của phương Đông, của Trung Hoa, của Việt Nam chúng ta, và nếp sống "phong lưu" của chị em Kiều.

Ngổn ngang /gò đống kéo lên,

Thoi vàng vó rắc/tro tiền giấy bay.

Đời sống tâm linh, phong tục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ được Nguyễn Du nói đến với nhiều cảm thông, san sẻ. Cõi âm và cõi dương, người đang sống và kẻ đã chết, hiện tại và quá khứ đồng hiện trên những gò đống "ngổn ngang" trong lễ tảo mộ. Cái tâm thánh thiện, niềm tin phác thực dân gian đầy ắp nghĩa tình. Các tài tử, giai nhân, và 3 chị em Kiều không chỉ nguyện cầu cho những vong linh mà còn gửi gắm bao niềm tin, bao ao ước về tương lai hạnh phúc cho tuổi xuân khi mùa xuân về. Có thể sau hai trăm năm, ý nghĩ của mỗi chúng ta có ít nhiều đổi thay trước cảnh "Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay", nhưng giá trị nhân bản của vần thơ Nguyễn Du vẫn làm ta xúc động!

Sáu câu thơ cuối đoạn ghi lại cảnh chị em Kiều đi tảo mộ đang dần bước trở về nhà. Mặt trời đã "tà tà" gác núi. Ngày hội, ngày vui đã trôi qua nhanh:

Tà tà, bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Hội tan sao chẳng buồn? Ngày tàn sao chẳng buồn? Nhịp thơ chậm rãi. Nhịp sống như ngừng trôi. Tâm tình thì "thơ thẩn", cử chỉ thì "dan tay", nhịp chân thì "bước dần". Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: "lần xem”… đối với mọi cảnh vật. Tất cả đều nhỏ bé. Khe suối chỉ là "ngọn tiểu khê". Phong cảnh "thanh thanh". Dòng nước thì "nao nao" uốn quanh. Dịp cầu thì "nho nhỏ" bắc ngang ở cuối ghềnh. Cả một không gian êm đềm, vắng lặng. Tâm tình của chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương. Như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến, sẽ nhìn thấy? Cặp mắt cứ "lần xem" gần xa:

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Các từ láy tượng hình: "thanh thanh", "nao nao", "nho nhỏ" gợi lên sự nhạt nhòa của cảnh vật và sự rung động của tâm hồn giai nhân khi hội tan, ngày tàn. Nỗi niềm man mác bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn của giai nhân đa tình, đa cảm.

Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng nhưng rất sống động, gần gũi, thân quen đối với bất cứ người Việt Nam nào. Không còn xa lạ nữa, vì ngọn tiểu khê ấy, dịp cầu nho nhỏ ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê hương đất nước mình. Tính dân tộc là một nét đẹp đậm đà trong thơ Nguyễn Du, nhất là những vần thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt tác.

Thi sĩ Xuân Diệu từng viết: "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi". Trong Thương nhớ mười hai không nén nổi cảm xúc của mình mà phải thốt lên: "Mùa xuân của tôi… Cái mùa xuân thần thánh của tôi… Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến”. Và chúng ta muốn nói thêm: Đẹp quá đi mùa xuân của đất nước thân yêu! Vui quá đi, trẻ đẹp quá đi cảnh mùa xuân, cảnh trẩy hội xuân trong Truyện Kiều. Mùa xuân đem đến cho ta bao ước vọng, sắc xuân, tình xuân như nở hoa, ướp hương trong lòng ta.

Hỡi những nàng Kiều gần xa có nghe thấy tiếng nhạc vàng của chàng Kim Trọng trong ngày xuân đẹp từ xa đang vọng tới?

Bình giảng tác phẩm truyện Kiều – Bài số 3 (Đoạn trích Chị em Thúy Kiều)

Bàn về nội dung và nghệ thuật Truyện Kiều, Nguyễn Du thực sự là một nghệ sĩ lớn, một danh nhân văn hóa thế giới. Dưới ngòi bút tài hoa của mình. Nguyền Du đã xây dựng một hệ thống nhân vật dù là chính hay phụ đều mang dáng nết riêng độc đáo và rất mực chân thực về từng hạng người trong thời ông đang sống. Một trong những nguyên nhân thành công trong việc xây dựng hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều có thể kể đến bút pháp miêu tả ngoại hình nhân vật để khắc họa tính cách, số phận từng nhân vật. Điều này thể hiện rõ ở đoạn trích Chị em Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du giới thiệu chung về nhan sắc và phẩm cách của chị em Thúy Kiều:

Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Bằng nghệ thuật ước lệ và hình thức tiêu đối của văn chương cổ. Hình ảnh chị em Thúy Kiều hiện ra với dáng thanh tú như mai, tâm hồn, phẩm hạnh trong như tuyết. vẻ đẹp mỗi người đều có nét riêng, và đều đạt đến mức độ hoàn mĩ “mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”.

Trong vẻ đẹp của mỗi nhân vật, được Nguyễn Du miêu tả bằng vài nét chấm phá của thi pháp cổ điển. Mỗi nhân vật là một nét vẽ sinh động và tuyệt đẹp:

Với Thúy Vân:

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Để tả Vân, ngòi bút của Nguyễn Du có chiều hướng cụ thể, từ khuôn mặt, nét mày, màu da, nước tóc đến nụ cười, tiếng nói và phong cách ứng xử. Nàng có gương mặt xinh đẹp, đầy đặn, sáng sủa như mặt trăng rằm, lông mày đẹp như mày con ngài (ở chi tiết này thực ra có nhiều ý kiến bình luận khác nhau. Có người lại cho rằng, nhà thơ dùng hình ảnh tượng trưng “nét ngài nở nang” không phải đế tả đôi lông mày của Thúy Vân như đôi râu uốn lượn của con ngài mà cốt để tả cái vóc dáng cân đối, đầy đặn, nở nang của nàng). Có như vậy mới tạo ra được bức chân dung tuyệt mĩ của nàng. Cái khuôn mặt phúc hậu, đẹp như trăng rằm tròn trĩnh, thắm tươi… cùng phải được ứng với cái vóc dáng nở nang cân đối ấy. vẻ đẹp của Thúy Vân còn được thể hiện qua hình ảnh miệng cười tươi như hoa, da trắng hơn cả tuyết.

Bằng cách sử dụng sáng tạo những biện pháp nghệ thuật có tính ước lệ, nhân hóa, những từ ngữ Hán học quen thuộc, tác giả khắc họa một Thúy Vân xinh đẹp, thùy mị, đoan trang, phúc hậu, khiêm nhường, một vẻ đẹp mà thiên nhiên sẵn sàng nhường nhịn “mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” như dự báo trước cuộc đời rồi sẽ bình yên, hạnh phúc của nàng.

Nguyễn Du tả Thúy Vân trước, tả Thúv Kiều sau, đó là cách tạo ra điềm tựa của nghệ thuật “đòn bẩy” để làm nổi bật hơn tài sắc của Kiều – nhân vật trung tâm của tác phẩm.

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn.

Vẽ đẹp của Thúy Kiều hơn hẳn vẻ đẹp của Thúy Vân. Vân được tả với vẻ đẹp hoàn hảo. Kiều vượt lên trên cái hoàn hảo ấy đế trở thành cái đẹp tuyệt đích. Câu thơ so sánh nhưng chính là để khắng định cái tài sắc hơn hẳn Thúy Vân của Kiều. Trong cái đẹp “sắc sảo” của Kiều có cả cái “mặn mà” của tình người. Có như vậy, Kiều mới đạt đến cái tuyệt đích của tình người. Có như vậy, Kiều mới đạt đến cái tuyệt đích của sự hoàn hảo.

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về vấn đề cá nhân với tập thể

Chỉ có một cặp câu thơ, mà Nguyễn Du đã làm nổi bật ở Kiều có cả TÀI – SẮC – TÌNH thì thật là tuyệt vời trong nghệ thuật miêu tả. Đến đây, Nguyên Du không miêu tả sắc đẹp của Kiều một cách chung chung mà chú ý đến tả đôi mắt của nàng:

Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

Đôi mắt đẹp trong của Thúy Kiều được miêu tả “làn nước mùa thu”. Làn nước mùa thu vừa trong sáng, vừa long lanh, vừa dợn sóng. Đôi mắt ấy vừa đẹp, vừa có cái tình, có sức cuốn hút mạnh mẽ. Đôi mắt ấy lại ẩn dưới nét lông mày thanh nhẹ tươi đẹp như nét núi mùa xuân, càng thêm kiều diễm, hài hòa. Nếu như vẻ đẹp của Thúy Vân trời xanh có thể nhường nhịn thì trước vẻ đẹp của Thúy Kiều, thiên nhiên, tạo hóa cũng trở nên đố kị, ghen ghét: “Hoa ghen”, “liễu hờn”. Với bút pháp nghệ thuật ước lệ, nhân hóa được tác giả sử dụng khéo léo, tạo cho người đọc có sự suy ngẫm về quan niệm triết lí của Nho gia: “tài mệnh tương đố”, “hồng nhan đa truân”. Một con người tài sắc như Kiều ắt hẵn khó bề yên ổn về sau.

Kiều không chỉ được nói đến ở sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” mà còn là một cô gái thông minh và rất mực tài hoa. Nàng có tài thơ, tài hoa, tài đàn. Nhưng có lẽ tài đàn là nổi bật hơn cả:

Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

Cung thương lầu bậc ngũ âm,

Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.

Sắc đẹp của Kiều cũng đủ làm cho hoa liễu hờn ghen, nước thành nghiêng đổ. Rồi cái tài hoa trí tuệ thiên bẩm “lầu bậc”, “đủ mùi”, cùng với tâm hồn đa sầu đa cảm như tự riêng có của nàng làm sao tránh khỏi sự hủy diệt của định mệnh nghiệt ngã, và chính tự tay nàng đã dạo nên khúc đầu “Bạc mệnh” đầy sầu ải, khổ đau. Cái SẮC – TÀI – TÌNH – MỆNH của Kiều được miêu tả trong đoạn thơ là dấu hiệu của tấn bi kịch về sau mà nàng phải gánh chịu trong quãng đời 15 năm lưu lạc, chìm nổi của mình.

Tấn bi kịch của đời nàng đáng như lời người trong truyện đã bình luận:

Anh hoa phát tiết ra ngoài;

Người thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Cái sắc đẹp khoác màu tài hoa mới chính là cái đẹp của người thông minh, nhiều cảm xúc. Trời xanh đã phú cho nàng có cả cái tài lẫn sắc thì cùng đày đọa nàng nhiều nỗi truân chuyên theo cái triết lí định mệnh nghiệt ngã “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Và có lẽ, cái triết lí định mệnh nghiệt ngã đó là sản phẩm của chế độ phong kiến đã ràng buộc, vùi dập những người tài hoa mà không riêng gì Thúy Kiều. Chính vì vậy, khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du muốn làm nổi bật lên sự đối lập gay gắt giữa quyền sống của con người, nhất là người phụ nữ, với sự áp bức của chế độ phong kiến trong lúc suy tàn. Một trong những biếu hiện của cảm hứng nhân đạo ở Truyện Kiều là sự đề cao những giá trị con người. Đó có thể là nhân phẩm, tài năng, khát vọng, ý thức về thân phận cá nhân… Thúy Kiều tài sắc được Nguyễn Du miêu tả ở đoạn trích này là một trong những nét đặc trưng mà ông muốn làm nổi bật về “một con người lí tưởng” phù hợp với cảm hứng ngưỡng mộ, ngợi ca con người. Có lẽ không ai hơn Nguyễn Du, không phải chỉ biết quan tâm sâu sắc đến con người, mà còn thấy được cái chân giá trị của con người. Đó là những gì mà Nguyễn Du hướng tới trong tác phẩm vĩ đại này.

Đoạn thơ là sự thể hiện đặc sắc nghệ thuật miêu tả để khắc họa một cách sinh động về nhan sắc, tài năng, tính cách, số phận Thúy Vân và Thúy Kiều. Và đằng sau đó là nguồn cảm hứng nhân đạo của thiên tài văn học Nguyễn Du.

Bình giảng tác phẩm truyện Kiều – Bài số 4 (Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán)

Trên hành trình lưu lạc của cuộc đời, Kiều đã phải nếm đủ mọi điều cay đắng, tủi nhục “hết nạn nọ đến nạn kia” đã đẩy nàng vào tuyệt vọng. Trong hoàn cảnh nghiệt ngã đó, Từ Hải xuất hiện như một làn gió mới làm thay đổi đời Kiều – Từ Hải, người anh hùng cái thế không những cứu Kiều thoát khỏi cuộc sống lầu xanh còn đưa nàng từ thân phận thấp hèn lên địa vị của một quan tòa cầm cán cân công lí để thực hiện việc “đền ơn trả oán”. Đoạn trích miêu tả cảnh Thúy Kiều đền ơn những người đã cưu mang giúp đỡ nàng, đồng thời trừng trị những kẻ bất nhân, tàn ác.

Cảnh “báo ân báo oán” là đỉnh điểm diễn biến của cốt truyện được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu (từ câu 2289 đến câu 2450). Những đối tượng được đền ơn là Thúc Sinh, mục Quan gia, Sư vãi, Giác Duyên. Những tên báo oán là Hoạn Thư, Bạc Hà, Bạc Hạnh, Ưng Khuyến, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh. Đoạn trích giảng đã được lược bớt, chủ yếu nói rõ việc Thúy Kiều đền ơn Thúc Sinh và trả oán Hoạn Thư.

Nhân vật cuộc chuyện trò thân mật, Thúy Kiều kể hết mọi nỗi gian truân của mình. Từ Hải nổi giận cho quân đi bắt cóc các tên tội phạm, đồng thời cùng cho mời những người có ân nghĩa rồi giao cho Kiều tự đứng ra xét xử “đền ơn trả oán”.

Phiên tòa được mở ra đầy đủ “ba quân” gươm lớn giáo dài tua tua, sáng quắc, hàng trong hàng ngoài, vệ nọ, cơ kia.. Trong quang cảnh oai nghiêm đó, Kiều được Từ Hải trao quyền chủ động xét xử theo một trình tự rõ ràng: đền ơn trước, báo oán sau.

Thúc Sinh được mời tới nơi xử án đầu tiên “cho gươm mời đến Thúc lang”. Trước phong canh oai nghiêm của phiên tòa, Thúc Sinh hoảng hốt tới mức mất cả thần sắc “mặt như chàm đổ mình dường dè run’’. Thúc Sinh sợ có lẽ vì tính khí của Thúc Sinh nhút nhát, ngay cả việc bảo vệ người mình yêu cũng không làm được để cho Hoạn Thư tha hồ ra tay hành hạ Kiều. Hơn ai hết, Thúc Sinh ý thức đầy đủ về vấn đề đó nên nỗi sợ hãi của chàng đã đẩy lên đến cao độ. Nhưng dù sao thì ở Thúc Sinh vẫn được xem là ân nhân của Kiều, vì Thúc Sinh đã cứu nàng ra khỏi bùn nhơ ở Thanh lâu để cưới nàng làm vợ lẽ và tạo cho Kiều có những ngày hạnh phúc của cuộc sống gia đình êm ấm. Với một con người phúc hậu như Kiều, nàng rất cảm thông nỗi bất lực của Thúc Sinh và không thể quên ơn chàng được. Thực ra Kiều không luận tội Thúc Sinh mà lại càng tỏ ra trân trọng chàng. Trong cuộc tình chồng vợ (dù là vợ lẽ) Thúy Kiều vẫn cho đó là “nghĩa nặng nghìn non” thì làm gì có chuyện phụ lòng. Nàng đặt mình vào những ngày xưa cũ trong quan hệ thân mật, trân trọng, thủy chung nên mới có cách dùng những từ “người cũ”, “cố nhân”, “nghĩa”, “tạ lòng”, và điển cố “sâm thương”. Cách nói này phù hợp với tính cách của Thúy Kiều. Chính đó mới là vẻ đẹp của công bằng lí tưởng, của công lí nhân dân, kể cả việc đền ơn bằng “gấm trăm cuốn bạc nghìn cân” mà cho là: “tạ lòng để xứng báo ân gọi là”. Đây là nét đẹp trong quan niệm của Kiều. Tấm lòng “nghĩa nặng nghìn non” thì gấm vóc, bạc vàng nào có thể cân đo được. Đối với Thúc Sinh, Kiều đặc biệt thông cảm, chia sẻ. Kiều hiểu rõ nỗi đau khổ của nàng không phải là do Thúc Sinh gây ra mà thủ phạm chính là Hoạn Thư. Chính vì vậy mà khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nói về Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho nàng đang còn quá xót xa. Khi nói về Hoạn Thư giọng Kiều thay đổi hẳn, đó là giọng điệu của một quan tòa có hàm ý mỉa mai đe dọa:

Xem thêm:  Cảm nhận về truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng

“Vợ chàng quỉ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”

Nguyễn Du cực kì khéo léo trong việc sử dụng một cách hiệu quả nhất những thành ngữ quen thuộc “kẻ cắp bà già gặp nhau”, “kiến bò miệng chén” để thể hiện hành động trừng phạt cái ác theo của nhân dân nên ngôn ngữ cũng thật nôm na, bình dị theo cách nói của nhân dân.

Tiếp đến là cảnh Thúy Kiều báo oán Hoạn Thư. Không khí phiên tòa đã thay đổi hẳn. Cái giọng ân tình, dịu hiền, đằm thắm của người con gái hiền lành, trung hậu, đốp chát, lạnh lùng của một thiếu phụ từng trải, nếm đủ mùi cay đắng hơn mười năm trời. Giờ đây đối diện với Hoạn Thư – chính danh thủ phạm, Kiều cũng đanh đá, sắc sảo như ai.

Đầu tiên là cách nói moi gan đối thủ:

Thoắt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây.

Cách xưng hô cùng vẫn như ngày xưa “chào thưa”, “tiểu thư”, khi Thúy Kiều còn là thân phận của kẻ tôi đòi ở nhà họ Hoạn cách xưng hô này của Kiều vào thời điếm hiện tại đã thọc sâu vào con người “quỉ quái tinh ma” những đòn đau của kẻ đang bị thất thế. Nay Hoạn Thư không còn là con gái của nhà “họ Hoạn danh gia” nữa mà là kẻ tội phạm đã bị tóm cổ về đây để xử án mà Kiều là quan tòa quyết định đến tương lai, số phận của Hoạn Thư.

Tiếp theo là giọng điệu đay nghiến, đốp chát của Thúy Kiều.

Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.

Phải nói là khi cần thiết, Thúy Kiều càng tỏ rõ mình là tay cũng chẳng vừa gì. Với cái giọng đay nghiến khiến câu thơ như dằn ra từng tiếng, khi từ ngữ được lặp lại: dễ có, dễ dàng, mấy tay, mấy mặt, đời xưa, đời này, mấy gan, càng cay nghiệt, càng oan trái. Cách nói này hoàn toàn phù hợp với con người “quỉ quái tinh ma” như Hoạn Thư “Bề ngoài thơn thớt nói cười – Bề trong nham hiểm giết người không dao”.

Giọng nói của Kiều tỏ rõ nỗi căm giận cao độ cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thư theo đúng quan niệm “Mưu sâu cùng trả nghĩa sâu cho vừa”. Thái độ của Kiều thì ta thấy rất rõ, nhưng có điều dường như Kiều đã bỏ rơi mất vai trò của người xử án và biến mình thành người đối thoại ngang hàng với kẻ thù của mình trong tư thế một người đàn bà mà chưa có cách luận tội cụ thể chỉ còn ở mức độ chung chung, hơn thiệt giữa đàn bà với nhau. Lợi dụng tình huống này mà Hoạn Thư đã tương kế tựu kế lấy chuyện đàn bà mà xoay xở. Trong phút giây đầu Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu” nhưng rồi Hoạn Thư cùng nhanh chóng trấn tĩnh “liệu điều kêu ca”.

Rằng: Tôi chút phận đàn bà

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

Nghĩ cho khi gác viết kinh

Với chi khỏi cứa đứt tình chẳng theo

Lòng riêng riêng những kính yêu.

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai

Trót đã gây việc chông gai

Còn mơ tượng bé thương bài nào chăng.

Đúng là lòi lẽ của con nhà thượng thư họ Hoạn “nói điều ràng buộc thì tay cũng già”. Trước tiên Hoạn Thư dựa vào tâm lí thương tình của người phụ nữ đế gỡ tội: “Rằng: “Tôi chút phận dàn ba – Ghen tuông thì cùng người ta thường tình”. Lí lẽ của Hoạn Thư thật cao siêu trong nghệ thuật bào chữa. Chỉ trong một khoanh khắc thôi là Hoạn Thư đã lôi kéo Kiều về phía mình hoặc ít ra Kiều cũng một phần nào chia sẻ một phần về “chút phận đàn bà”. Đã là đàn bà thì ai ai cũng vậy chứ chẳng riêng gì Hoạn Thư. Giảm nhẹ mọi tội lỗi xuống chuyện đàn bà, để đàn bà dễ thông cảm về việc này, nếu Hoạn Thư có tội thì cũng là do tâm lí chung của giới nữ: “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”.

Hẵn nhiên Hoạn Thư biết giấu những gì nên giấu để chạy trốn tội lỗi của mình như những việc đánh đập, bắt cóc, hành hạ, đày dọa Kiều xuống hàng con hầu đứa ở mà chỉ kế lại “công” đã cho Kiều ra viết kình ở gác Quan Âm và cũng bắt giữ khi Kiều bỏ trốn ra khỏi nhà họ Hoạn. Đây cũng là thủ thuật ngụy biện độc đáo, và cuối cùng là Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình và chờ mong tấm lòng khoan dung độ lượng như trời bể của Kiều mà tha cho: “Còn nhờ lượng bề thương bài nào chăng”.

Xét về mặt khôn ranh, tráo trở thì Hoạn Thư không có đối thủ. Còn với Kiều thì chẳng qua dày dặn phong sương, chịu đau chịu khổ là nhiều chứ làm gì bằng cái khôn ranh, xảo quyệt có huyết thống gia đình “lại bộ” của Hoạn Thư. Ngay cả Thúc Sinh kia thì cũng chẳng là gì đối với Hoạn Thư kia mà. Nguyên là một người có tội tày đình với Kiều mà khi nói ra thì sự việc nhẹ nhàng cốt là để cảm thông, xóa tội. Cái giọng điệu “quỉ quái tinh ma” ấy của Hoạn Thư đã làm xiêu lòng Kiều. Kiều đành phải chấp nhận Hoạn Thư là người “Khôn ngoan đến mực nói năng phai lời”. Hoạn Thư đã đẩy Kiều vào chỗ khó xử, “tha ra thì cùng mấy đời – làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”. Thái độ khoan dung, độ lượng của Kiều thì rất rõ, cũng mới đây thôi Kiều quyết tâm trả oán để cho được hả dạ, cho vết thương lòng của Kiều được xoa dịu đi phần nào. Nhưng rồi mọi sự đã đảo lộn trong khoảnh khắc, vì Hoạn Thư đã “tri quá” thì cũng nên tha tội và Kiều đã “truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”.

Việc xét xử Hoạn Thư có một kết cuộc thật bất ngờ, nhưng thực ra nó cũng phù hợp với logic đoạn văn, với tính cách nhân vật. Kiều tha bổng Hoạn Thư không hoàn toàn phụ thuộc vào sự “tự bào chữa” mà chủ yếu là do tấm lòng độ lượng của Kiều. Cách cư xử này của Kiều phần nào cũng phù hợp với quan niệm triết lí dân gian: “Đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại”. Dù sao thì tên tiểu thư ấy đã bị tóm cố đến phiên tòa đã “hồn lạc phách xiêu”, đã “khấu đầu dưới trướng”, đã kêu ca xin thương tưởng, nghĩa là công lú đã phần nào được thực hiện. Việc thay đối ngôi đã rõ ràng và Kiều đã trở thành vị quan tòa cầm cán cân công lí để xét xử.

Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán có một kết cấu phù hợp với tính cách nhân vật, với tâm lí nhân dân và tính chất lí tưởng của đạo đức. Thường tình thì con người cái oán ghi sâu hơn cái ân, trả oán được nghĩ đến trước trả ân. Đó là cảm tính, là tâm lí tự nhiên. Nhưng ở đây thì hoàn toàn ngược lại. Sự kiện đó đã phản ánh phẩm chất của Thúy Kiều – Một con người trung hậu vị tha, nghĩ đến người khác hơn nghĩ đến mình nên cái ân được trọng hơn cái oán. Và đây cũng còn là cái lẽ công bằng của nhân dân; quí trọng ân nghĩa hơn hận thù. Đây là điều mà ta cảm nhận được từ huyết thống của dân tộc ta.

Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán thể hiện tài năng sáng tạo của thiên tài văn học Nguyễn Du trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Chỉ cần vài nét chấm phá của nghệ thuật miêu tả ước lệ, Thúc Sinh hiện lên là con người nhút nhát trông thật thảm thương, và đặc biệt là cách của nhân vật: Hoạn Thư khôn ngoan, sắc sảo; Thúy Kiều nhân nghĩa, bao dung, độ lượng trong việc xét xử “đền ơn trả oán”. Và qua đó, cũng đã phản ánh được khát vọng, công lí chính nghĩa của thời đại Nguyễn Du.

Thanh Bình tổng hợp

Topics #bình giảng #Cảm nhận #cờ bạc #con đường #con người #cuộc sống #giới thiệu #học tập #kỉ niệm #nguyễn du #niềm tin #quan điểm #suy nghĩ #tả cảnh #tác phẩm Truyện Kiều #Thề nguyền #thời gian #truyện kiều #tưởng tượng #ước mơ #văn học #Vũ Bằng