Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà – Bài số 1

   Nhà văn Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước có tinh thần tự hào dân tộc, là người có ý thức cá nhân cao, cá tính độc đáo, lối sống tự do, phóng túng, ham hiểu biết, thích khám phá cái mới, cái đẹp, cái lạ. Là người quý trọng thực sự nghề nghiệp của mình, là người rất mực tài hoa, uyên bác. Tất cả những đặc điểm đó trong con người Nguyễn Tuân đã hội tụ để làm nên vẻ đẹp của ông, đặc biệt thể hiện ở tùy bút sông Đà. Ở tùy bút, nhà văn chú trọng xây dựng hình tượng người lái đò sông Đà.

   Nhà văn tô đậm hình ảnh con sông Đà hung bạo, con sông Đà nhìn ra diện mạo và tâm địa kẻ thù số 1 của con người là để nhằm đề cao ông lái đò tài ba. Sông Đà đúng như lời đề từ nhà văn đã nói: "Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu", không chỉ là duy nhất dòng chảy ngược Bắc mà còn là con sông có điểm độc đáo riêng: dữ dội, hung bạo. Nhà văn Nguyễn Tuân với sự am hiểu sâu sắc về thượng nguồn sông Đà cùng với ngôn từ, cách diễn đạt có sức gợi lớn giúp cho người đọc mở rộng hiểu biết về một con sông quê hương biết mấy tự hào. Nhà văn còn tô đậm tài hoa của những con người vô danh, ngày ngày chiến đấu với cái dữ dội, sức mạnh của con sông hung thần tức là nhà văn làm hiện lên vẻ đẹp của những con người làm chủ thiên nhiên man dại.

  Đối với nhà văn những hoạt động bình dị của những người lao động vô danh trong đời thường như giã dò, lái đò. Hoạt động giã dò, công việc chèo đò đều là một thứ nghệ thuật, đối với Nguyễn Tuân đó là cả một nghệ thuật cao cường. Cho nên người lái đò sông Đà cũng chính là một nhân vật bình dị, vô danh với cuộc đời lao động đời thường nhưng trong cái nhìn của nhà văn đó là cái tài hoa nghệ sĩ.

   Ông lái đò là người có trí nhớ tuyệt vời: Nhà văn đặc biệt ngợi ca trí nhớ tuyệt vời của ông lái đò: "Sông Đà đối với ông lái đò giống như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc cả những dấu chấm than, chấm câu và cả những chỗ xuống dòng". Ông còn nắm vững quy luật của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này.

   Nếu như sông Đà lắm mưu nhiều kế, bày thạch trận trên sông, lúc nào cũng sẵn sàng ăn tươi nuốt sống bất cứ người lái đò nào qua nó. Nếu như sông Đà với diện mạo và tâm địa kẻ thù số một của con người với xoáy nước hiểm trở, sóng thác hung dữ, đá giống như những tướng dữ quân tợn thì ông lái đò nhỏ bé nhưng luôn tỉnh táo, bình tĩnh, , hiên ngang như một viên tướng trí dũng song toàn. Ông lái đò quả thực xứng đáng với danh hiệu anh hùng trên mặt trận sông nước. Trong cái nhìn của mọi người, lái đò là một công việc hết sức bình thường của tất cả những người dân sông nước, tuy nhiên với Nguyễn Tuân, công việc lái đò không hề đơn giản bởi vì đó thực sự là một cuộc vật lộn với thác ghềnh, với sóng nước, là một cuộc chiến đấu quyết liệt với thiên nhiên hiểm trở để giành lại sự sống về tay mình. Đó thực sự là một cuộc vật lộn sinh tồn chỉ lỡ tay, lỡ mắt là mất mạng ngay. Nhà văn tô đậm sự khắc nghiệt, dữ dội của sông Đà là để làm nổi bật sự vất vả, hiểm nguy của người lái đò sông Đà. Nhà văn có khẳng định: "Làm cái nghề vận tải đường nước này thật là vất vả, người cứ dựng đứng lên mà luôn tay, luôn mắt, luôn chân, luôn cả tim nữa". Đúng là không chỉ vất vả mà tính mạng lúc nào cũng như "ngàn cân treo sợi tóc", hiểm nguy có thể đến bất cứ lúc nào, đau đớn cả về thể xác là không tránh khỏi: Sóng thác đã đánh đến cả miếng đòn hiểm độc nhất cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy…khiến ông lái đò nổ đom đóm mắt, mặt méo bệch đi.

   Tuy nhiên, ông lái đò đã mấy chục lần chèo thuyền trên thác sông Đà mà mà vẫn sáng, thân hình vẫn gọn quánh như chất sừng, chất mun, vẫn dám thi với tất cả những tay lái đò tài ba ở khắp vùng.

   Ông lái đò hiện lên là một người bình tĩnh: Nhà văn đã đem hy tài năng, ngôn từ của mình huy động sức gợi của nó, nhà văn còn sử dụng kết hợp quan sát, miêu tả, so sánh, , liên tưởng để giúp cy người đọc hình dung hết được thượng nguồn sông Đà hiểm trở, dữ dội và cũng đem đến cho người đọc cảm giác rùng mình, hãi hùng, dựng tóc gáy, lấy gân gồng mình lên để cùng chèo con đò vượt qua dòng thác nhưng đối với ông lái đò thì nhà văn miêu tả ông ở tư thế thật bình tĩnh, thật chủ động. Ông đò không chỉ có trí nhớ tuyệt vời mà ông còn linh hoạt trong việc xử trí những bất ngờ trong quá trình chèo đò. Ví dụ khi bị thương ông nén vết thương, hai chân vẫn kéo chặt cuống lái, vẫn tỉnh táo, ung dung, vững tay chèo.

   Nhà văn còn miêu tả ông lái đò là một người dày dặn kinh nghiệm chèo thuyền vượt thác. Ông lái đò không chỉ thông thạo các quy luật của thần sông, thần đá, ông còn rất , mỗi cử chỉ, mỗi động tác đều rất điêu luyện, chính xác, thật khéo léo. Ông đã phá cả ba vòng vây của sóng thác sông Đà:

   Ở vòng vây thứ nhất: sóng nước như quân liều mạng khi thì chúng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm, có lúc chúng lại hò la vang dậy, phóng thẳng vào mình, có lúc chúng đội cả thuyền lên nhưng ông vẫn giữ chắc mái chèo để khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa có những lúc dù bị thương, ông vẫn tỉnh táo. Ông xác định cưỡi lên thác sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Ông hiểu sông Đà như hiểu lòng bàn tay mình cho nên chỗ ông nắm chặt bờm sóng đúng luồng, ghì cương lái để đúng luồng mà phóng nhanh vào cửa sinh rồi lái miết một đường chéo về cửa đá ấy. Sau mỗi một vòng vây không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá tiếp luôn các vòng vây kế tiếp.

   Ở vòng vây thứ hai dù ông đã đi trúng luồng sinh, thì bốn năm bọn thủy quân ải nước vẫn xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử, ông đò nhớ mặt bọn này và rất điềm tĩnh, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Ông đò tránh hết được cửa tử để đi vào cửa sinh, tránh hết luồng chết để đi vào luồng sống, thuyền ông giống như một mũi tên tre mà xuyên qua hơi nước, tự động lái được, lượn được. Như vậy có lúc ông đò phải gồng mình lên, lấy hết sức, thậm chí hoa mắt, thốt tim nhưng ông luôn bình tĩnh, tự tin, làm chủ thế trận. Ông đò đúng là một con người thông minh, khéo léo, dũng cảm, táo bạo, dày dặn kinh nghiệm vượt thác chèo đò. Ông đò không chỉ dày dặn kinh nghiệm, trí nhớ tuyệt vời mà còn hiện lên với tư thế một anh hùng trên mặt trận sông nước. Trong cái nhìn của nhà văn, trong của người đọc, người nghe, lái đò là cả một nghệ thuật cao cường đúng là "tay lái ra hoa". Với ông lái đò đây là công việc hết sức bình thường bởi vì sau khi vượt qua sóng thác hung bạo thì nhà đò không thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn, họ bàn về cá dầu xanh, cá oanh vũ.

Xem thêm:  Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài

   Trong cái nhìn của nhà văn Nguyễn Tuân, con người được ví với khối vàng mười quý giá. Ông lái đò lại là người lao động nghèo khổ cống hiến âm thầm, giản dị, vô danh. Ông lái đò là một trong những con người vô danh đại diện cho sức mạnh của con người. Đoạn trích nói riêng, tùy bút nói chung là khúc hùng ca ca ngợi con người. ca ngợi ý chí lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi sức mạnh của sông nước trước sức mạnh của thiên nhiên man dại. Đó chính là chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc nói riêng và những con người lao động nói chung.

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà – Bài số 2

Với mười lăm bài tùy bút và một bài thơ phác thảo sau chuyến thực tế ngược miền Tây Bắc điệp trùng mà đầy kỳ thú, tập “Tùy bút sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân ra đời (1960) đã góp cho nước nhà một tác phẩm giá trị khẳng định cuộc sống và con người Tây Bắc trong sự nghiệp dựng xây đất nước “Người lái đò sông Đà” là một thiên tùy bút đặc sắc trong tập tùy bút của Nguyễn Tuân. Đặc biệt hình ảnh ông lái đò dũng cảm và tài ba đã để lại ấn tượng khó phai mờ trong tâm trí người đọc. Cùng với hình tượng này, phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân càng rõ thêm, ấn tượng thêm.

Nhân vật ông lái chắc chắn sẽ bị mờ nhạt nếu như tác giả chỉ miêu tả ông trong cuộc mưu sinh phẳng lặng trên sông nước hiền hòa. Người lái đò trong tác phẩm thực sự trở thành hình tượng chân thật và sông động là sự ký thác ý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân, văn sĩ suốt một đời say mê kiếm tìm và khẳng định cái đẹp. Hình tượng ông lái đò đẹp một cách kiêu hãnh trong mối tương quan đồng hiện với nhân vật sông Đà dữ dằn mà kỳ vĩ! Đấy cũng chính là dụng ý tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân, khi ông muốn “ghi” ở đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận sông Đà.

Vẻ đẹp đầy ấn tượng về ông lái đò là sự lồn tại sống động trước thử thách ghê gớm của dòng sông Đà. Ta hình dung như cả một “thạch trận trên sông” dàn giăng muốn bổ chụp hòng nuốt lấy con thuyền và ông lái. Trong tình thế ấy, sông Đà mới dữ dội và kỳ quái làm sao: “Nó bầy thạch trận trên sông. Đám tảng, đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền một cái thuyền đơn độc…”. Trong trận đồ bát quái đó “với đá, nước thác reo hò làm thanh viện… những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt”, sông nước mà dữ dằn như quỷ dữ. Nhưng cũng chính từ cảnh tượng dữ dội mà kỳ vĩ ấy, hình tượng ông lái hiện lên rõ ràng trong vẻ đẹp của sức mạnh và bản lĩnh cao cường.

Thiên nhiên muốn lấn át, muốn nuốt sống, ông lái đò bình tĩnh và quả cảm vượt lên sóng dữ: “Ông lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hắt lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Bao nhiêu thử thách của sông nước ông lái phải vượt qua. Không có nghị lực phi thường và sự bình tĩnh chủ động làm sao ông qua được con quỷ dữ sóng nước: “có lúc chúng muốn đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đồ vật túm thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt…”.

Quả là nhà văn Nguyễn Tuân đã huy động một binh chủng ngôn ngữ thật đa dạng, ở nhiều lĩnh vực để miêu tả đầy kịch tính, đầy ấn tượng về cuộc giao tranh giữa con người (ông lái đò) và thiên nhiên (sông Đà). Những cảm giác mạnh luôn đến với ta đấy là cái dữ dội mà kỳ vĩ của dòng nước ấy là cái bình tĩnh chủ động đầy quả cảm, đầy bản lĩnh của ông lái đò. Con người dũng cảm tài ba và thiên nhiên dữ tợn kỳ quái cùng lao vào trong cuộc quyết chiến. Và hình tượng ông lái đò càng về sau càng trở nên kiêu dũng, quyết liệt đến tận cùng trong cuộc giao đấu. Ông lái vượt lên sóng dữ bằng dũng khí tuyệt vời bởi ông “cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ… Ông lái đò ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà miết một đường chèo về phía cửa đá ấy”.

Một đặc điểm của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân là “thiên nhiên hay con người đều được chú ý khám phá ở phướng diện văn hóa, mĩ thuật của nó”. Vì thế, ta còn bắt gặp ở đây hình ảnh một ông lái đò rất mực tài hoa, nghệ sĩ bên cạnh vẻ đẹp của lòng dũng cảm và bản lĩnh cao cường trước thử thách của thiên nhiên.

Một tư thế tuyệt đẹp của ông lái lúc “ghì cương” mà “phóng nhanh vào cửa sinh” cho ta thấy ấn tượng về một chàng kỵ sĩ dũng mãnh và rất đỗi hào hoa. Một phong thái bình thản, tự tin khi ông lái ứng chiến với sóng dữ”… đè sắn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Và hình ảnh con thuyền vượt lên “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước…” đem đến cho ta một cảm giác vừa sảng khoái, vừa hả hê trước sự chiến thắng của ông lái – nghệ sĩ. Và đây – hình ảnh cuối của người lái đò cũng là hình ảnh tập trung của sự ký thác tâm tình và nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

“…Trên thác hiên ngang một người lái đò sông Đà có tư do, vì người lái đò ấy đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà. Hình tượng ông lái đò một con người lao động bình dị mà phi thường được Nguyễn Tuân khắc họa như một biểu tượng đẹp của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Đây là một cách nhìn, cách khám phá và khẳng định con người Việt Nam trong thời đại mới! Chính vì thế tùy bút “Người lái đò sông Đà” nói riêng và mười lăm thiên tùy bút về sông Đà của Nguyễn Tuân nói chung đã góp phần khẳng định vẻ đẹp của cuộc sống mới và con người mới trên đất nước Việt Nam chúng ta.

Bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” mà ấn tượng mạnh mẽ là cuộc vượt thác sông Đà của ông lái đò giúp chúng ta nhận ra một điều lý thú: vẻ đẹp hào hùng tài hoa của những người lao động bình thường nơi có dòng sông ngọn thác hoang vu kia là có thật. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đâu chì có ở nơi chiến trường với tiếng súng tiếng bom gầm.

Đọc hết “Người lái đò sông Đà” mà tâm trí ta vẫn như hiển hiện hình ảnh ông lái đò dũng mãnh và hào hoa với con thuyền nhỏ cưỡi lên sóng dữ mà đi tới mà chiến thẳng, vẻ đẹp ấy huy hoàng và tráng lệ làm sao!

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà – Bài số 3

Nguyền Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đau Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người với tư tưởng, tình cảm gắn bó với đất nước quê hương. Nguyễn Tuân được người đọc đặc biệt chú ý về phong cách nghệ thuật rất riêng và rất độc đáo của ông Người lái đò Sông Đà, đó là một bài tùy bút, cũng là một bài thơ bằng văn xuôi đã thể hiện được những nét tiêu biểu về phong cách đó.

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về mục đích học tập - Văn học lớp 9

Người lái đò Sông Đà ưước hết là một tác phẩm viết về một con người một con sông. Nhưng dưới ngòi bút đầy hứng thú và tài hoa của ông mọi cảnh vật thiên nhiên đều trở thành những công trình mĩ thuật, con người đều thành những nghệ sĩ điêu luyện. Bằng sự tiếp cận quan sát và khả năng mô tả cùng với một kho chữ nghĩa vô cùng giàu có, chuẩn xác, Nguyễn Tuân đã dựng lên những bức tranh hết sức sống động, những hình tượng kì vĩ giàu sức hấp trong thiên tùy bút độc đáo này.

Người lái đò trên sông Đà trong tác phẩm, trước hết là một ông già bảy mươi tuổi, đã giành một phần lớn đời mình cho nghề lái đò dọc trên sông Đà. Đó một người lái đò lão luyện: “Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn trăm lần rồi, chính tay giữ lái độ sáu chục lần…” trong hơn chục năm làm cái nghề đầy nguy hiểm và gian khổ này. Đây là một con người từng trải hiểu biết, rất thành thạo trong nghề lái đò, và đã đạt đến trình độ “bằng cách lấy mắt và nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng đất tất cả những luồng nước tất cả những con thác hiểm trở” Nguyễn Tuân tiếp tục bày tỏ sự khâm phục với con người này. “Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cà những dấu chám than, châm câu và cả những đoạn xuống dòng”. Thật là một cách so sánh “rất văn chương” đầy thú vị và cũng “rất Nguyễn Tuân”.

Hình tượng người lái đò với “cái đầu bạc quắc thước ấy đặt trên một thân hinh cao to và gọn quánh như chất sừng, chất mun” và những cánh tay vẫn là cánh tay của một “chàng trai”, “trẻ tráng quá”, Nguyễn Tuân đã gọi đó là một thứ “vàng mười”. Ông đã đứng trước những thách thức của con sông Đà với những thế lực của những bãi đá ghê gớm, những cạm bẫy đầy kinh hoàng: “Ngoặt khúc sông lượn, thây sóng bọt đã trắng xóa cả một chân giời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc thuyền nào nhô vào đường ngoặt sóng là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”. Và một mình một thuyền ông đã giao chiến như một dũng sĩ: hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo, vũ khí trên cánh tay mình”, và sóng nước “thúc vào gối bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám vào gối bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đồ vật túm thắt lưng ông đò, đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt”. Có lúc tưởng như ông lái đò bị nhấn chìm dưới dòng sông… Cách miêu tả chân thực và táo bạo này cho thấy sức mạnh ghê gớm của dòng thác hung dữ, con người chỉ cần lóa mắt, lỡ tay một chút là phải trả giá bằng sinh mạng của mình.

Nhưng dũng cảm và gan dạ chưa đủ, mà cái quan trọng hơn là tài nghệ của người cầm lái để lái con đò đến mức điêu luyện và nghệ thuật. Tác giả so sánh người lái đò sông Đà với người lái xe lao xuống dốc đèo; tuy rất nguy hiểm nhưng người lái xe còn có phanh chân, phanh tay, có tiến lên, lùi lại. “còn như cái thuyền mà lao xuống thác thì chả có cái phanh nào cả, chỉ có lao đi chứ không lùi lại, không lao trúng tim luồng nước thì thuyền quay ngang mà ụp, chứ không có lùi gì cả…”, vẫn bằng phương pháp so sánh, nhưng với những hình ảnh táo bạo, khơi gợi lạ lùng, tác giả đã tả sông Đà thiên biến vạn hóa, mỗi chỗ như có một bầy nguy hiểm riêng, đòi hỏi người lái đò phải có một cách ứng phó riêng. Có chỗ thì nước sông “reo lên như đun sôi lên một trăm độ muốn hất tung đi một cái thuyền đang phải đóng vai một cái nắp ấm một ấm nước sôi khổng lồ”. “Có luồng nước đi lầm vào thì chết ngay”. Lại có những “hút nước” xoáy sâu như lòng giếng “cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi”…

Thật là mộl dòng sông Đà đầy hiểm trở, đầy nguy nan cho con người. Thế nhưng, “ông lái đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cái cuống lái…” Mặc dù mặt “méo bệch đi” vì những đòn hiểm, “nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh láo của người cầm lái. Rõ ràng qua cách miêu tả đến tột cùng sự dữ dội của con sông, Nguyễn Tuân nhằm đến một mục đích lớn: ca ngợi sự dũng câm, tài trí của con người, ca ngợi sự chiến thắng vĩ đại của ông lái đò, đã vượt bao thác ghềnh, sóng to gió cả đưa con đò về đến bến bình yên, không phải chỉ một lần, mà hàng trăm lần, suốt mười lăm năm làm người lái thuyền vượt sông Đà. Cuộc đọ sức giữa con người và thiên nhiên thật ghê gớm, căng thẳng, đầy sáng tạo và con người đã chiến thắng, trở về cuộc sống thanh bình: “Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh (…). Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam…”.

Cảm hứng lãng mạn đậm đà trong sáng, lan tỏa trong từng câu văn tả thực tạo cho đoạn văn một sức lôi cuốn không thể cưỡng nổi. Đó là một bài ca về lao động, về con người lao động. Sau mười năm làm nghề lái đò, cả sau khi đã thôi nghề vài chục năm, trên ngực người lái đò vẫn còn “bầm tụ” mộl “củ khoai nâu”, với Nguyễn Tuân, “đó cũng là cái hình ảnh quý giá của một thứ huy chương lao động siêu hạng”.

Cảm ơn nhà văn Nguyễn Tuân đã cho chúng ta thưởng thức một công trình nghệ thuật đầy sáng tạp. Ngoài việc cung cấp cho chúng ta những kiến thức và tri thức về cuộc sống, về văn hóa và lịch sử địa lí, về ngôn ngữ…, tác phẩm còn là một khối kiến trúc thẩm mĩ độc đáo, giúp ta cảm thụ được cái đẹp mộl cách sâu sắc, cái đẹp của con người cụ thể, con người lao động. Người lái đò Sông Đà. Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi những con người lao động gian lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang.

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà – Bài số 4

"Người lái đò sông Đà" là một tùy bút thành công của Nguyễn Tuân viết về một con người và một con sông, mọi cảnh vật thiên nhiên đều trở thành những công trình mĩ thuật, con người đều trở thành những nghệ sĩ điêu luyện, đặc biệt là hình tượng người lái đò.

Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi . Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người, với tư tưởng, tình cảm gắn bó với đất nước quê hương. Nguyễn Tuân được người đọc đặc biệt chú ý về phong cách nghệ thuật rất riêng và rất độc đáo của ông. Người lái đò Sông Đà, đó là một bài tùy bút, cũng là một bài thơ bằng văn xuôi đã thể hiện được những nét tiêu biểu về phong cách đó.

Xem thêm:  Nêu ngắn gọn quá trình sáng tác và các đề tài chính của nhà văn Nguyễn Tuân

Người lái đò Sông Đà trước hết là một tác phẩm viết về một con người và một con sông. Nhưng dưới ngòi bút đầy hứng thú và tài hoa của ông mọi cảnh vật thiên nhiên đều trở thành những công trình mĩ thuật, con người đều trở thành những nghệ sĩ điêu luyện. Bằng sự tiếp cận quan sát và khả năng mô tả cùng với một kho chữ nghĩa vô cùng giàu có, chuẩn xác, Nguyễn Tuân đã dựng lên những bức tranh hết sức sống động, những hình tượng kì vĩ giàu sức hấp dẫn trong thiên tùy bút độc đáo này.

Người lái đò trên sông Đà trong tác phẩm, trước hết là một ông già bảy mươi tuổi, đã giành một phần lớn đời mình cho nghề lái đò dọc trên sông Đà. Đó là một người lái đò lão luyện: “Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay giữ lái độ sáu chục lần…" trong thời gian hơn chục năm làm cái nghề đầy nguy hiểm và gian khổ này. Đây là một con người từng trải, hiểu biết, rất thành thạo trong nghề lái đò, và đã đạt đến trình độ “bằng cách lấy mắt và nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”. Nguyễn Tuân tiếp tục bày tò sự khâm phục đối với con người này. "Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những dấu chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng". Thật là một cách so sánh “rất văn chương" đầy thú vị và cũng "rất Nguyễn Tuân".

Hình tượng người lái đò với “cái đầu bạc quắc thước ấy đặt trên một thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng, chất mun" và những cánh tay vẫn là cánh tay của một "chàng trai', "trẻ tráng quá", Nguyễn Tuân đã gọi đó là một thứ “Vàng mười”, ông đã đứng trước những thách thức của con sông Đà với những thế lực của những bãi đá ghê gớm, những cạm bẫy đầy kinh hoàng: “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân giời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc thuyền nào nhô vào đường ngoặt sóng là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền". Và một mình một thuyền ông đã giao chiến như một dũng sĩ: hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy quanh minh, ùa vào mà bè gẫy cán chèo, vũ khí trên cánh tay mình”, và sóng nước “thúc vào gối bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò, đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt. Có lúc tưởng như ông lái đò bị nhấn chìm dưới dòng sông… Cách miêu tả chân thực và táo bạo này cho thấy sức mạnh ghê gớm của dòng thác hung dữ, con người chỉ cần lóa mắt, lỡ tay một chút là phải trả giá bằng sinh mạng của mình.

Nhưng dũng cảm và gan dạ chưa đủ, mà cái quan trọng hơn là tài nghệ của người cầm lái để lái con đò đến mức điêu luyện và nghệ thuật. Tác giả so sánh người lái đò sông Đà với người lái xe lao xuống dốc đèo, tuy rất nguy hiểm nhưng người lái xe còn có phanh chân, phanh tay, có tiến lên, lùi lại, "còn như cái thuyền mà lao xuống thác thì chả có cái phanh nào cả, chỉ có lao đi chứ không lùi lại, không lao trúng tim luồng nước thì thuyền quay ngang mà ụp, chứ không có lùi gì cả..”, vẫn bằng phương pháp so sánh, nhưng với những hình ảnh táo bảo, khơi gợi lạ lùng, tác giả đã tả sông Đả thiên biến vạn hóa, mỗi chỗ như có một bầy nguy hiểm riêng, đòi hỏi người lái đò phải có một cách ứng phó riêng. Có chỗ thì nước sông "reo lên như đun sôi lên một trăm độ muốn hất tung đi một cái thuyền đang phải đóng vai một cái nắp ấm nước đang sôi khổng lồ". “Có luồng nước đi lầm vào thì chết ngay". Lại có những “hút nước" xoáy sâu như lòng giếng “cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi"…

Thật là một dòng sông Đà đầy hiểm trờ, đầy nguy nan cho con người. Thế nhưng, “ông lái đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cải cuống lái…" Mặc dù mặt “méo bệch đi" vì những đòn hiểm, nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái”.

Rõ ràng qua cách miêu tả đến tột cùng sự dữ dội của con sông, Nguyễn Tuân nhằm đến một mục đích lớn: ca ngợi sự dũng cảm, tài trí của con người, ca ngợi sự chiến thắng vĩ đại của ông lái đò, đã vượt bao thác ghềnh, sóng to gió cả đưa con đò về đến bến bình yên, không phải chỉ một lần, mà hàng trăm lần, suốt mười lăm năm làm người lái thuyền vượt sông Đà. Cuộc đọ sức giữa con người và thiên nhiên thật ghê gớm, căng thẳng, đầy sáng tạo và con người đã chiến thắng, trở về cuộc sống thanh bình: "Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh (…). Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam…".

Cảm hứng lãng mạn đậm đà trong sáng, lan tỏa trong từng câu văn tả thực, tạo cho đoạn văn một sức lôi cuốn không thể cưỡng nổi. Đó là một bài ca về lao động, về con người lao động. Sau mười năm làm nghề lái đò, cả sau khi đã thôi nghề vài chục năm, trên ngực người lái đò vẫn còn "bầm tụ” một “củ khoai nâu", với Nguyễn Tuân, “đó cũng là cái hình ảnh quý giá của một thứ huân chương lao động siêu hạng".

Cảm ơn nhà văn Nguyễn Tuân đã cho chúng ta thưởng thức một công trình nghệ thuật đầy sáng tạo. Ngoài việc cung cấp cho chúng ta những kiến thức và tri thức về cuộc sống, về văn hóa và lịch sử địa lí, về ngôn ngữ…, tác phẩm còn là một khối kiến trúc thẩm mĩ độc đáo, giúp ta cảm thụ được cái đẹp một cách sâu sắc, cái đẹp của con người cụ thể, con người lao động Người lái đò Sông Đà. Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi ca những con người lao động gian lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang.

Thanh Bình tổng hợp

Topics #Cảm nhận #chiến thắng #con người #cuộc sống #dũng cảm #hiện đại #lao động #lối sống #Người lái đò Sông Đà #phân tích #Phân tích hình tượng người lái đò #Sông Đà #thời gian #tự tin #tưởng tượng #văn học