Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân – Bài làm 1

Các nhà văn khi viết truyện bao giờ cũng xây dựng một nhân vật đậm nét. Nhân vật đó thường là tiêu biểu cho tư tưởng tình cảm tác giả. Trong 'Làng", truyện ngắn của Kim Lân cũng đã thể hiện điều đó. Ông Hai nhân vật chính trong truyện là một người yêu làng, yêu nước. Tình yêu làng ở ông có những nét đặc sắc, riêng biệt, được thể hiện thành một cá tính đáng quý.

Ông Hai yêu nước và tự hào về làng  chợ Dầu nơi "chôn nhau, cắt rốn", nơi "quê cha đất tổ" của ông. Tình cảm ấy thể hiện trước hết ở cái tính hay khoe về làng, lấy làm hãnh diện về làng của mình.

Trước cách mạng, mỗi bận đi đâu xa ông thuờng khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông hoặc khi có khách bên họ ngoại ở dưới tỉnh Nam lên chơi, thế nào ông cũng dắt ra xem lăng cụ Thựợng cho kỳ được….Ông có vẻ hãnh diện cho làng có được cái sinh phần ấy lắm. "Chết! Chết tôi chưa thấy cái đình nào mà lại được như cái đình cụ Thuợng làng tôi. Có lắm lắm là của. Vườn hoa cây cảnh non như động ấy!…"

Về sau, cách mạng đã giúp ông thay đổi nhận thức, hiểu được sự nhầm lẫn của mình. Tuy nhiên, sau sự nhầm lẫn ẩy ta cũng thấy rõ tình cảm tự hào của ông đối với làng. Cho nên khi nhận ra những giá trị chân chính cùa làng thì nên tự hào ở ông càng trở nên lớn lao.

Từ ngày cách mạng thành công, khoe làng, ông khoe cái khí thế rổn rập, hào hùng thời kì khởi nghĩa: Trẻ, già, trai, gái tham gia cướp chính quyền, tập tự vệ, dào hào, dắp ụ chuẩn bị chống Pháp.

Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin thoảng mát nhất vùng, cái chòi phát thanh cao, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy.

Mỗi lần kể chuyện về làng, ông nói một cách say sưa và náo nức lạ thường, hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt dộng. Tóm lại ở ông, với khoe làng đã trở thành cái tật, một thứ nghiện. Ông nói về làng ông "cho suớng miệng, chọ đỡ nhớ cái làng" và hiểu dạng sau cái "tật" đó chính là tấm lòng chân thật gắn bó của ông với làng, là niềm tự hào chân chính của ông về quê hương.

Ông Hai say sua kê những thành tích của làng và càng say sưa hơn khi những thành tích đó có phần đóng góp của ông. Ông tự hào nhớ lại thuở ông "gia nhập trong phong trào từ thời kì còn bóng tối" "vác gậy đi tập một, hai". Khi dân làng tản cư, ông lại "cùng anh em dào đường, đắp ụ", công việc bộn bề, ông mải mê làm "chẳng còn kịp nghĩ gì đến vợ con nhà cửa nữa".

Ông là người nói được, làm được. Công việc chung của làng, ông nói say sưa mà làm cũng say sưa.

Vì ông yêu mến làng nên mọi nỗi khổ đau hay niềm vui sướng đều gắn bỏ với cái làng quê yêu dấu đó.

Khi bất đắt dĩ phải tản cư, ông buồn khổ lắm, tiếc nhất là không được góp phần gánh vác công việc chung cùng những người ở lại.

Khi gặp người tản cư ở dưới xuôi lên, đưa tin giặc càng vào làng chợ Dầu, cả làng làm Việt gian, ông đau xót quá "cổ ông nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được". Ông ngưng, không dám nói chuyện với người đàn bà tản cư và tìm cách lẫn tránh. Quay trở về, ông phải "cúi gằm mặt xuống mà di", về đến nhà, ông "nắm vật ra giường" không dám ló mặt ra khỏi nhà. Ông bụồn. Ông xấu hổ, ông tự tranh luận với mình, tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với vợ con. Nhiều lúc "nước mắt ông lão cứ trào ra". Đêm ông Hai trằn trọc không sao ngủ được. Ông hết trở mình bênn này lại trở mình bên kia, thở dài'". Có lúc "ông lão lặng hẵn đi, chân tay nhũn ra, tưỡng chừng như không cất lên được". Tiếng dòn loang ra, cả gia đình ông vô cùng buồn khổ. Ông càng đau xót. Niềm tin nỗi buồn giằng xé lòng ông "chả nhẽ cái bọn ở làng lại đồ đốn đến thế được. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng quyết tâm một sống một chết với giặc có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ây".

Có lúc ông nghĩ: "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù". Những lúc buồn khổ quá ông chi biết ôm con vào lòng than thở cùng con "như để ngỏ lòng minh, như để mình lại minh oan cho mình nữa".

"Anh em đồng chí biết cho bố con ông.

Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông".

Có lẽ đây là lần mà nỗi đau về làng đến với ông một cách tê tái nhất, quằn quại nhất. Suốt ngày đêm ông day dứt, lòng dạ bồi hồi. Đến khi ông chú tịch từ dưới quê lên cải chính tin dồn, ông như mở cò trong bụng. Mua quà chia cho các con. Lật dật đi báo tin với mọi người, đi cải chính cho mọi người. Bây giờ chính ông lại rất vui, rất tự hào khi nghe tin nhà minh bị giặc đốt: "Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhăn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính… cải chính tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hốt! Toàn là sai sự mục đích cả!"

Cũng chỉ được bảng ấy câu.ông Hai lại chạy vội đi nơi khác để loan tin vui. Tối ông lại khoe về làng. Ông kể lại hôm Tây vào khùng bố làng ông chúng nó có bao nhiêu thằng đi những lối nào, dân quân tự vệ làng ông chiến đâu ra sao… Ông kê rành rọt, tỉ mỉ như chính ông vừa dự trận đánh ấy xong.

Đây lại là những lúc ông Hai lấy làm vinh dự về làng, tự hào về làng quê mình, anh dũng phá càng đánh giặc.

Qua hành dộng, lời nói, ta thấy rõ ông Hai là người gắn bó tha thiết với quê hương. Vì yêu quê hương nên ông yêu nước, kính yêu cụ Hồ, ông hăng hái tham gia kháng chiến.

Xem thêm:  Phân tích nhân vật ông Sáu trong tác phẩm Chiếc lược ngà

Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân – Bài làm 2

Kim Lân là một nhà văn có sở trường khi viết về đề tài nông thôn, nông dân. Ở ông có sự gắn bó mật thiết với nông thôn, am hiểu tâm lí của những người nông dân, kết hợp với sự tinh tế, nhạy cảm của một nhà văn tài năng đã làm cho ngòi bút của Kim Lân trở nên chân thực, sống động, tái hiện được sâu sắc những hiện thực của đời sống. Trong các sáng tác của mình ông có sự biến hóa đa dạng về nhân vật, tính cách, tình huống, một trong số những tác phẩm tiêu biểu không thể không kể đến của Kim Lân đó chính là truyện ngắn Làng, câu chuyện xoay quanh nhân vật chính, đó chính là ông Hai.

Ông Hai là người dân làng chợ Dầu, vì hoàn cảnh nên ông phải sống ngụ cư ở nơi đất khách. Tuy xa quê nhưng ông Hai chưa một lần thôi nhớ về quê hương, tình cảm dành cho quê hương của ông mãnh liệt đến mức không kiềm nén nổi mà có xu hướng bộc lộ ra bên ngoài. Cụ thể là khi gặp những người hàng xóm, ông thường kể về làng chợ Dầu của mình, từ những chi tiết nhỏ của làng cũng được ông kể đầy say mê, hồ hởi. Đây chính là tình yêu của ông dành cho nơi “chôn nhau cắt rốn của mình”, chỉ vì bất đắc dĩ nên ông mới phải rời làng đến nơi khác làm ăn, sinh sống như vậy. Nhưng cái gì quá cũng không tốt, ông hay kể về làng, kể về những thứ tốt đẹp của làng mình, gặp ai cũng kể nên trở thành sự khoe khoang đối với cảm nhận của nhiều người.

Tuy nhiên, tình yêu quê hương của ông được đặt trong một tình huống vô cùng éo le, trái khoáy khi ông Hai nghe tin làng chợ Dầu theo theo giặc, đó thực sự là một tin quá sức bất ngờ đối với ông, sự bất ngờ kèm theo đau đớn, chua sót. Làng chợ Dầu vốn là tình yêu, niềm tin bất diệt trong ông mà giờ đây niềm tin ấy, tình yêu ấy dường như đã quay lưng lại, phản bội lại ông một “vố” đau đớn. Ông bàng hoàng, không dám tin vào, nhưng dẫu vậy cổ họng ông vẫn nghẹn đắng, da mặt tê rần rần, trên suốt quãng đường trở về nhà ông không dám ngẩng mặt lên nhìn ai, vì xấu hổ, vì nhục nhã. Ông lặng lẽ đi về nhà rồi nằm vật ra giường, nước mắt giàn giụa, đó chính là những giọt nước mắt đau khổ, những giọt nước mắt tuyệt vọng.

Từ khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, ông Hai không dám đi ra ngoài nhiều, nhìn thấy những đám người tụm năm, tụm ba đang bàn bạc gì đó thì ông lại cho rằng đang nói về việc làng chợ Dầu theo giặc, ông bắt đầu lo sợ sự khinh bỉ, hăt hủi của mọi người, sợ không ai dám chứa dân làng chợ Dầu nữa, nư thế thì phải làm sao, gia đình ông sẽ phải sống như thế nào. Đã có lúc vì quá phẫn uất mà ông đã cất tiếng chửi: “..chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống việt gian bán nước nhục nhã như thế này”. Có thể nói đây là lần đầu tiên ông cất tiếng chửi làng chợ Dầu, lần đầu tiên ông thất vọng, buồn tủi vì nó, tình yêu của ông dành cho làng chợ Dầu không hề thay đổi, dù xa quê nên khi nghe làng làm việt gian ông mới khổ tâm như vậy.

Ông Hai trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội hơn, đó là làng chợ Dầu theo giặc rồi, ông sẽ theo làng chợ Dầu hay theo cách mạng. Dù lo sợ nay mai sẽ không ai chứa bố con ông, rồi bố con ông sẽ bị hắt hủi, tẩy chay nhưng ông cũng quyết không chịu về làng chợ Dầu, vì làng chợ Dầu đã theo giặc, mà ông tuy yêu quê hương mình nhưng ông cũng không thể phản bội lại Cách mạng, bởi ông tin vào cụ Hồ, tin vào khả năng lãnh đạo, dẫn dắt cách mạng của cụ Hồ, chính vì vậy mà ông đã dãi bày những lời nói xuất phát từ tim gan của mình: “ Cụ Hồ trên đầu, trên cổ xét soi cho bố con ông. Cái lòng của bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai, chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. Như vậy, ở ông Hai chỉ không có tình yêu tha thiết dành cho làng chợ Dầu của mình mà ông còn là một người tuyệt đối trung thành với cách mạng, với cụ Hồ. Khi buộc phải lựa chọn, ông vẫn đặt lợi ích của đất nước lên trên tình yêu cá nhân của ông.

Khi nghe tin làn chợ Dầu không phải là Việt gian bán nước, ông đã vui sướng, cái niềm vui mà không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông không chỉ mua quà cho lũ trẻ mà còn lăng xăng chạy từ đầu xóm đến cuối xóm để khoe cái tin tức hay ho này, ông phải đính chính lại cho tất cả mọi người biết, rằng làng chợ Dầu của ông không theo giặc, niềm vui sướng, hành động của ông như một đứa con nít được cho quà, thế ta mới hiểu với ông Hai thì làng chợ Dầu có ý nghĩa to lớn như thế nào. Nhà ông bị đốt nhưng ông lại đi khoe với dáng vẻ hồ hởi đầy vui sướng “Tây nó đốt nhà tôi rồi. Đốt nhẵn”. Vì không biết chữ, lại không biết cách nói nên những lời thanh minh cho làng chợ dầu của ông thật hài hước “Toàn là sai sự mục đích cả”.

Truyện ngắn “làng” của Kim Lân là tác phẩm truyện ngắn viết về tình yêu quê hương, đất nước của người dân Việt Nam, tình yêu ấy không phải chỉ là những lời nói sáo rỗng mà nó được bộc lộ qua những tình huống cụ thể, đó là tin ngôi làng yêu dấu của mình theo giặc, dù yêu làng nhưng ông Hai nhất quyết không chịu làm Việt gian bán nước, ông một lòng tin tưởng, đi theo cụ Hồ. Đó là người nông dân Việt Nam hiền lành, chân chất, giàu lòng yêu quê hương, tổ quốc những hoàn cảnh éo le nhất, nếu phải lựa chọn thì họ vẫn lựa chọn theo cách mạng,gác lại tình cảm cá nhân, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu.

Xem thêm:  Nghị luận về việc đọc sách

Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân – Bài làm 3

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã xây dựng thành công hình ảnh những con người Việt Nam kiên cường, bất khuất với một tình yêu quê hương đất nước tha thiết, sâu nặng. “Bên cạnh hình ảnh những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trên mặt trận còn có những con người hi sinh lặng thầm nơi hậu phương để góp phần vào thắng lợi của kháng chiến. Đó là những người nông dân có lòng yêu nước thiết tha, bình dị, sâu sắc. Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã xây dựng thành công hình ảnh nhân vật ông Hai – một người nông dân chân chất nhưng mang nặng tình yêu làng và lòng yêu quê hương, có tinh thần kháng chiến mạnh mẽ.

Phải đi tản cư do làng bị địch chiếm đông nhưng ông Hai không lúc nào nguôi nỗi nhớ về làng mình. Đó là nỗi nhớ da diết của một con người cả đời gắn bó sâu nặng với mảnh đất nơi mình sinh ra, ở lớn lên. Tình yêu ấy được Kim Lân cảm nhận một cách sâu sắc và thể hiện hết sức giản đi, chân thành.

Những ai đã đọc Làng đều cảm nhận được ở ông Hai tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với làng xóm, với quê hương. Đối với người nông dân chất phác ấy, tình cảm với làng quê, thôn xóm là tình cảm tự trong tim, ngấm sâu vào máu thịt. Cũng như bao người dân khác, cả một đời ông Hai gắn bó với mảnh đất quê nghèo mà nặng sâu ân tình. Cái làng chợ Dầu ấy đã trở thành nguồn vui sống của ông. Tác giả đã để cho ông Hai bộc lộ tình yêu đó một cách chân thật, nồng nhiệt, vừa có những nét quen thuộc vừa có những nét riêng biệt chỉ có ở ông Hai.

Yêu làng, ông yêu tất cả những gì thuộc về làng, thậm chí yêu cả những cái mà ông và biết bao người đã phải khổ sở vì nó. Ông Hai tự hào vì làng Chợ Đầu của ông có những ngôi nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong làng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng năm ngày mùa phơi rơm và thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất… Ông tự hào về tất cả những nét độc đáo, những thứ đã làm nên bề dày lịch sử của làng ông.

Nhưng tình yêu làng của người nông dân ấy không bất biến mà thay đổi theo , theo sự biến chuyển của thời đại. Kháng chiến nổ ra mang theo những luồng tư tưởng mới chiếu rọi tâm hồn ông. Giờ đây, đối với ông Hai, cái lăng cụ Thượng, cái sinh phần kia đầu đăng căm thù; niềm tự hào về làng là những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy tham gia; những hố, những ụ, những hào…, chiếc chòi phát thanh. Tất cả những điều đó, từ những cái nhỏ nhặt đến những điều "lớn laọ, đều trở thành đối tượng của tình yêu tha thiết, đậm sâu trong ông. Qua những lời khoe của ông Hai, ta cảm tưởng như cảnh vật làng xóm đã hằn in trong ông, chiếm trọn con tim, khôi óc người nông dân ấy. Yêu làng, ông Hai có nhu cầu thể hiện, thổ lộ tình yêu ấy với tất cả mọi người. Đi đến đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Ông say sưa kể về làng của mình mà không cần biết người nghe có chủ ý hay không. Mỗi khi bắt đầu nói về làng, “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mất biến chuyển”. Chỉ một chi tiết ấy thôi, Kim Lân đã khắc họa thành công tình cảm thiêng liêng của ông Hai dành cho mảnh đất quê mình. Tình yêu ấy luôn hâm nóng trong trái tim của ông Hai và càng trở nên mạnh mẽ hơn khi ông phải xa làng. Trong những ngày xa quê, sống nơi sơ tán xa lạ chính tình yêu làng đã trở thành  trong ông. Những khi mệt nhọc, chỉ cần nghĩ về làng, kể chuyện làng là ông quên hết tất cả.

Nếu như cuộc sống cứ diễn ra yên bình như thế thì tình yêu làng của ông Hai mới chỉ là "tâm lí làng xã” của những người dân quê Việt Nam – những con người cả đời gắn bó với lũy tre, cây đa, bến nước, sân đình; yêu nơi “chôn nhau cắt rốn” bằng một tình yêu bản năng, máu thịt. Kim Lân đã để cho nhân vật trải qua tình huống truyện độc đáo: ông Hai nghe tin làng theo Tây. Đây chính là tác nhân làm bùng nổ tình yêu nước thiết tha, sâu đậm của ông. Ở người nông dân ấy, tình yêu làng gắn liền với lòng yêu nước. Ta bắt gặp ở đây chân lí về cội nguồn của lòng yêu nước theo quan điểm của nhà văn Liên Xô (cũ) I. Ê-ren-bua: Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất… Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

Nghe tin làng theo giặc, “Cổ ông nghẹn đắng hắn lại, da mặt tê rân rân…, ông lão lặng đi, tưởng như không thể thở được”. Trong ông đã diễn ra một cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt: ông tủi nhục, đớn đau, ông tự giày vò, “ông hồ nghi rồi lại tự nhủ mình phải tin vì mọi chuyện đã hết sức rõ ràng. Cuối cùng, ông cay đắng rít lên: Chúng bay ăn miếng cơm hay ăn miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này,…”. Tiếng rít ấy là tiếng nói của lòng căm hờn, sự căm giận đang ngùn ngụt trong lòng ông Hai. Trong ông đang có cuộc giằng co dữ dội: ông yêu làng, làng ông đáng tự hào là thế, mà giờ lại thế mà giờ lại theo Tây. Tình cảm của ông phải thế nào đây? Nhưng sự giằng co ấy nhanh chóng đi đến kết luận: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì ta phải thù. Một thái độ dứt khoát, một tình yêu mạnh mẽ nhưng không mù quáng. Tình yêu làng trong ông rất mãnh liệt, nhưng làng phải gắn với nước. Giờ đây, “làng Chợ Dầu của ông theo Việt gian, tức là hại nước, hại cách mạng thì không thể yêu làng  như xưa được nữa. Niềm tin, sự oán trách cũng như thái độ kiên quyết… tất cả, tất cả đều là biểu hiện sống động nhất của tình yêu nước trong ông Hai…

Xem thêm:  Giải thích lời khuyên của Lênin: Học học nữa học mãi - Văn hay lớp 7

Những diễn biến trong cảm xúc, tâm trạng, những và… cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt của ông Hai trong những ngày nghe tin làng theo Tây chính là  tình huống giúp Kim Lân khắc họa rõ nét hơn bức: chân dung tinh thần và lòng  yêu nước sâu nặng, tình yêu làng tha thiết của ông Hai. Ông thấy tủi hổ vì niềm tự hào bấy lâu nay của ông giờ thành ra như thế. Ông chỉ biết cúi gằm mặt xuống mà đi, ông thương lũ con ông vì chúng có một quê hương đáng xấu hổ; “nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu”. Suốt những ngày đó, ông không dám đi đâu, chỉ “nằm rũ ở trên giường, không nói gì”, “quanh quẩn trong cái gian nhà chật chội mà nghe ngóng”, lúc nào cũng nơm nớp lo âu. Ta bỗng hiểu hơn tại sao tác giả lại kể và tả tỉ mỉ những biểu hiện của tình yêu làng nơi ông Hai những ngày làng còn chưa bị đồn là theo Tây. Nó là sự đối nghịch với thái độ kiên quyết khi nghe tin làng làm Việt gian, là sự khẳng định mạnh mẽ tình yêu nước lớn lao trong ông. Tình yêu ấy không chỉ là bản năng mà đã trở thành ý thức – ý thức của một công dân. Nó gắn liền với tình cảm dành thể kháng chiến và đối với Cụ Hồ, được thể hiện. thật cảm động khi ông giãi bày tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với Cụ Hồ, với anh em đồng chí và là lời tự nhủ của chính ông trong những lúc căng thẳng, thử thách. Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổbsoi xét cho bố con ông”. Những lời bộc lộ chân tình ấy là biểu hiện của tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng, với kháng chiến mà biểu tượng là Cụ Hồ; cũng là thể hiện tình yêu đất nước thiết tha. của ông Hai. Tình cảm của một người nông dân nghèo đối với đất nước và kháng chiến thật sâu nặng và thiêng liêng: “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”.

Niềm vui sướng vỡ òa khi ông Hai biết rằng làng mình vẫn là làng kháng chiến. Không còn nỗi tủi nhục đè nặng trong lòng, ông lại tiếp tục đi khoe về làng Chợ Dầu anh dũng của mình, lại ngồi trên chiếc chõng tre, nên quân lên tận bạn mà nói chuyện về cái làng của ông”. Người nông dân vốn gắn bó với nhà của ruộng vườn… Phải bỏ nhà ra đi họ đã xót xa lắm, ông Hai cũng thể. Nhưng ta lại bắt gặp hình ảnh ông Hai tất bật đi khoe cái tin “Tây nó đốt hết nhà tôi. rồi, hết hẳn”. Ông sung sướng bởi việc Tây đốt nhà là biểu hiện của làng ông trong sạch, làng ông không làm Việt gian. Làng vẫn là tình yêu, là niềm tự hào tha thiết của ông Hai. Nhà ông bị đốt hết nhưng như thế có là gì. Đó chỉ là một phần ông cống hiến cho đất nước. Tài sản riêng mất mát nhưng cách mạng, đất nước sẽ vững mạnh hơn,’đó mới thực sự là niềm vui, là hạnh phúc.

Tình yêu làng, yêu nước, hòa quyện trong tâm hồn người nông dân mộc mạc, chất phác thật đẹp biết bao. Làng của Kim Lân là một khúc ca về tình yêu quê hương đất nước mà những người lao động nghèo là những thanh âm trong trẻo, réo rắt nhất, để lại bao dư âm lắng đọng trong lòng độc giả.

Kim Lân đã từng được đánh giá là một cây bút hàng đầu về đề tài. phong tục. Trong truyện Làng, sự thông hiểu về lễ thói, phong tục của làng quê được ông vận dụng hết sức khéo léo vào xây dựng tâm lí, hành động, ngôn ngữ nhân vật. Cốt truyện đơn giản, sức nặng lại dồn cả vào mạch diễn biến tâm trạng vào lời thoại của nhân vật nên câu chuyện có sức hấp dẫn riêng, ấn tượng riêng, độc đáo. Trong số rất nhiều những nhân vật nông dân khác, người đọc khó có thể quên một ông Hai yêu làng quê, yêu đất nước, thủy chung với kháng chiến, với sự nghiệp chung của dân tộc. Một ông Hai thích khoe làng, một ông Hai sốt sắng nghe tin tức chính trị, một ông Hai tủi nhục, đau đớn khi nghe tin làng mình theo giặc, một ông Hai vui mừng như trẻ thơ khi biết tin làng mình không theo giặc.… Ai đó đã một lần thấy nhà văn Kim Lân, nghe ông nói chuyện còn thú vị hơn nữa: hình như ta gặp ông đâu đó trong Làng rồi thì phải.

Topics #Cảm nhận #con người #cuộc sống #kim lân #lao động #Những đứa trẻ #niềm tin #phân tích #quan điểm #suy nghĩ #thời gian #truyện ngắn Làng #văn học #vườn hoa